Trên tờ Điểm Sách của Hồng Mao

Trên tờ Điểm Sách của Hồng Mao, số mới nhất, có 1 bài thần sầu về Scott Fitz. Ghé tiệm tính bệ về, nhưng không đủ xu, tờ này mắc lắm, đành thua, đọc khúc free đỡ!

Tender Is the Writer


Dịu dàng như… [nhà văn] GCC!
Cái gì gì “nhân hậu và cảm động”!
Ôi, chưa được hôn em mà đã nhớ em những ngày ở bên kia nấm mồ rồi!
Note: Tờ Điểm Sách của đám Hồng Mao, đọc Scott Fitz nhân xb một số truyện ngắn mới kiếm thấy.
Cái tít vinh danh “Dịu Dàng Như Đêm” của chàng, và tất nhiên, như 1 phản ứng dây chuyền, vinh danh MCNK của TTT.
Bài này tuyệt quá. Cho đọc free nữa mới tuyệt làm sao.
Tin Văn còn nợ độc giả bài điểm cuốn tiểu sử Czeslaw Milosz của tờ này!
Hà, hà!
Satisfaction doesn’t come with things, however beautiful and plentiful. Tender Is the Night (1934) is, perhaps, unequal to the poetic ferocity and compression of The Great Gatsby (1925), but its sensitive hero, Dick Diver, is the most heartbreaking of Fitzgerald’s characters, a man with everything and nothing.
Dịch theo kiểu lộng dịch:
Hài lòng thì chẳng mắc mớ chi với đời, dù đời có đẹp có đầy cỡ nào. “Dịu dàng như đêm”, thì có lẽ không thể nào so với sự dữ dằn thi ca và độ nén của “Gastby vĩ đại”, nhưng nhân vật Kiệt của nó, thì mới mẫn cảm và nhức nhối làm sao, số 1 trong những nhân vật của Fitz, một kẻ với tất cả và với chẳng có cái chó gì!
“Thơ RC rất đỗi thê lương, và nỗi cô đơn đến với chúng ta, rất đỗi bất ngờ. Trong thơ ông có nỗi buồn cháy da cháy thịt, nhưng không phải là do mất 1 người thân, thí dụ như bài sau đây, GCC thật mê”
Ui chao, đúng là cái tình cảnh của Gấu bữa ở PLT, sau khi Sad Seagull bỏ đí.
Cực kỳ thê lương, cực kỳ trống rỗng.
Nhưng bằng cách nào, bà xã ông bạn Bạn, từ mãi tít xa, mấy ngã tư, mấy góc đường, lại nhìn ra, hiểu ra, và bèn thúc giục ông chồng chạy vội xe tới?
Manguel, trong Borges Yêu, giải thích:
Borges once remarked that the destiny of the modern hero is not to reach Ithaca or the Holy Grail. Perhaps his sorrow, in the end, came from realizing that instead of granting him the much-longed-for and sublime erotic encounter, his craft demanded that he fail: Beatriz was not to be Beatrice, he was not to be Dante, he was to be only Borges, a fumbling dream-lover, still unable, even in his own imagination, to conjure up the one fulfilling and almost perfect woman of his waking dreams.
Phần số của chúng ta, là không tới được Thiên Đường.
Cái sự sống sót của chúng ta, là 1 sỉ nhục tình yêu, thứ vĩ đại như K phán.
GCC cũng đã từng viết như thế, lần thoát chết mìn VC ở nhà hàng Mỹ Cảnh!
Sáng sớm hôm sau, khi chàng nhận thấy đã chống cự nổi, và thắng cả thần chết, đã lừa dối được định mệnh, đồng thời chàng cũng nhận ra một sự thật thảm thương, là sự sống sót của chàng như có một điều chi bất thường, giống như một nốt nhạc sai, dư, thừa, bất toàn, một giọng hát lạc giữa một bài ca, sự sống sót của chàng là một điều xúc phạm tới tình yêu thiêng liêng: Chàng vẫn sống và nàng đã chẳng tới được nhà thương đêm đó.
Trong khi lần hồi sống lại, trong những lần nàng vào nhà thương Grall thăm chàng, nghe nàng kể chuyện, khi được tin, nàng đã khóc và không dám giụi mắt, vì sợ mắt sẽ đỏ, và người trong nhà sẽ biết. Chàng nghe kể lại, vừa cảm động vừa hổ thẹn….
Tứ Tấu Khúc
Borges in Love
A young woman in the audience:
“Mr. Borges, have you ever been in love?”
Borges (unhesitatingly): “Yes.”
Yale University, March 1971
Jay Parini
Tender Is the Writer
Paradise Lost: A Life of F Scott Fitzgerald
By David S Brown
Harvard University Press 413pp £23.95 order from our bookshop
I’d Die for You and Other Lost Stories
By F Scott Fitzgerald (Edited by Anne Margaret Daniel)
Scribner 358pp £16.99 order from our bookshop
Literary Review – Britain’s best-loved Literary Magazine
F Scott Fitzgerald is the most irresistible of modern American writers, and readers return to his pages time and again. When Paradise Lost landed on my desk for review, I had just, over the past year, read through Fitzgerald’s major novels and stories, work I’ve known and admired for half a century. But classic literature is, in Pound’s great phrase, ‘news that stays news’, and I continue to read Fitzgerald as compulsively as I read the daily headlines.
The problem with Fitzgerald has never been the work; it’s been the writing about him. The standard biography for some time has been Some Sort of Epic Grandeur, a 1981 study by Matthew J Bruccoli. It’s a reliable and boring compilation of facts, not as well written as the first major assessment of the life and work, The Far Side of Paradise by Arthur Mizener (1951). Any number of lives of Fitzgerald have appeared over the decades, but I’ve not found them satisfying, in large part because they tend to portray the author as a spokesman for the so-called Jazz Age, a drunken playboy with unresolved aspirations who embodies the empty morality of the Lost Generation. One got more by reading memoirs of the period, such as Malcolm Cowley’s haunting Exile’s Return (1934), which recalls well-known American authors in Paris in the 1920s, a kind of golden age that continues to inspire young American writers to travel abroad to seek their imaginative fortunes. Fitzgerald was hardly celebrating the lifestyles of the rich and famous. Instead, he offered a rueful and remorseless critique of that world, however much he adored it.
Fitzgerald was a good Catholic boy by training, a young man who read the Gospels and understood (though he resisted the notion, almost successfully) that it’s easier for a camel to go through the eye of a needle than for the rich to enter heaven. His wealth-bedazzled characters, including Jay Gatsby, Amory Blaine in This Side of Paradise and Gordon Sterrett in ‘May Day’, that incomparable early masterpiece of short fiction, find little pleasure in their lives. They have swallowed a notion of the American Dream that has turned into a kaleidoscopic fantasy which tantalises but never quite resolves into a steady image. There is no fun in their yearning for something they can’t possess and that nobody can ever have. Satisfaction doesn’t come with things, however beautiful and plentiful. Tender Is the Night (1934) is, perhaps, unequal to the poetic ferocity and compression of The Great Gatsby (1925), but its sensitive hero, Dick Diver, is the most heartbreaking of Fitzgerald’s characters, a man with everything and nothing. This episodic, gorgeously written novel tracks the author’s own decline from the mid-1920s through to the Great Depression, which became an external correlative to Fitzgerald’s own spiritual (as well as financial) bankruptcy.
What I admire about Paradise Lost is that it moves well beyond the hackneyed images in which the author lives in the prison house of his own fragile dreams, a sybaritic social climber who squanders his talent by drinking. For David Brown, ‘Fitzgerald sought to record in some definite sense the history of America’, with its dream of equality and liberty for all ruined by unchecked capitalism. Brown writes: ‘The growing power of industrialists and financers offended his romantic sensibility, and he wondered if this rising republic of consumers could ever recover its old idealism.’
Paradise Lost: MCNK mà chẳng là Thiên Đàng Đã Mất ư?
Đâu chỉ Đà Lạt, mà cả Miền Nam: Thiên Đàng Đã Mất
Sáng sớm hôm sau, khi chàng nhận thấy đã chống cự nổi, và thắng cả thần chết, đã lừa dối được định mệnh, đồng thời chàng cũng nhận ra một sự thật thảm thương, là sự sống sót của chàng như có một điều chi bất thường, giống như một nốt nhạc sai, dư, thừa, bất toàn, một giọng hát lạc giữa một bài ca, sự sống sót của chàng là một điều xúc phạm tới tình yêu thiêng liêng: Chàng vẫn sống và nàng đã chẳng tới được nhà thương đêm đó.
Trong khi lần hồi sống lại, trong những lần nàng vào nhà thương Grall thăm chàng, nghe nàng kể chuyện, khi được tin, nàng đã khóc và không dám giụi mắt, vì sợ mắt sẽ đỏ, và người trong nhà sẽ biết. Chàng nghe kể lại, vừa cảm động vừa hổ thẹn…
Nhớ là, cái mẩu này, đăng trên Nghệ Thuật. Một đấng bạn quí, đọc, hình như ở Quán Chùa, nhìn Gấu như nhìn 1 con quái vật. Trong MCNK, khi cô học trò Oanh thấy thầy Kiệt bịnh quá, bèn thỏ thẻ, hay là em bỏ hết, theo Thầy từ nhà thương này qua nhà thương khác, hầu hạ Thầy, Kiệt xoa tay, đừng, đừng chẳng bõ.
Cả cuốn MCNK là bài hát Chuyện Tình – bạn đọc hẳn còn nhớ, bài này có 1 thời nổi tiếng tại Sài Gòn qua giọng hát Dalida, Une histoire d’amour – được lập đi lập lại, cả 1 cuốn La Nausée là câu hát, Some of these days you’ll miss me, honey cái con mẹ gì đó! (1)
(1)
https://en.wikipedia.org/wiki/Some_of_These_Days
Ôi chao, vẫn Borges, như đã phán ở trên:
No one loses (you repeat in vain)
Except that which he doesn’t have and never
Had, but it isn’t sufficient to be brave
To learn the art of oblivion,
A symbol, a rose tears you apart
And a guitar can kill you.
And a guitar can kill you
Chẳng ai mất (bạn lập lại 1 cách vô ích)
Ngoại trừ cái mà bạn chẳng có, chẳng bao giờ có
Nhưng can đảm không thôi,
Không đủ
Để học nghệ thuật của sự lãng quên
Một biểu tượng, một bông hồng làm bạn tả tơi
Suốt 1 đời,
Suốt nhiều đời
Đời đời
Môt bản nhạc sến có thể giết bạn
Gấu gặp cú này rồi. Ở Đỗ Hoà, với bản Chuyện Tình Buồn (1)
(1)
http://www.tanvien.net/Al/Waiting_For_SN_1.html
“the wet cheeks of streets gleam”
Một, trong Top Ten “Search Keyphrases”, theo server.
Tò mò, Gấu gõ đầu Bác Gúc. Ra bài thơ, dưới đây.
Quái thật.
Những Top Ten thường gặp, thì cũng đã quái rồi.
“Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi”, thí dụ.
“Má ướt, ướt trăng phố”, thần sầu, quá thần sầu!
Mà, thơ Adam Zagajewski nữa chứ!
Tks All
Birdsong diminishes.
The moon sits for a photo.
The wet cheeks of streets gleam.
Wind brings the scent of ripe fields.
High overhead, a small plane cavorts like a dolphin.
Adam Zagajewski
Chuyện Tình Buồn
Tiếng chim loãng dần.
Mặt trăng ngồi vào một bức hình
Má phố ướt, ánh lên ánh trăng.
Gió mang mùi lúa đang độ chín
Mãi tít phía bên trên, một cái máy bay
quẵng 1 đường,
như chú cá heo.
Cái tít “Chuyện Tình Buồn này”, thay vì “Một chuyện về nỗi cô đơn” (nguyên tác, của AZ), là do Gấu nhớ đến cô bạn, và những ngày Ðỗ Hòa.
Lần đầu tiên Gấu nghe Chuyện Tình Buồn, là ở Ðỗ Hòa, 1 buổi tối văn nghệ tổ, trong 1 lán nào đó, khi là Y Tế Ðội, và khi 1 anh tù hát lên bản này, một anh khác cầm hai cái muỗng đánh nhịp, Gấu bèn nhớ ra liền buổi tối mò đến thăm em, đứng tít mãi bên ngoài, trong bóng tối nhìn vô căn nhà cũ, em thì đã lấy chồng, có đến mấy nhóc:
Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Bèn lủi thủi ra về. Trưa hôm sau, bị tó ở bên Thủ Thiêm, đưa vô trường Phục Hồi Nhân Phẩm, Bình Triệu, vừa hết cữ vã, là xin đi lao động Ðỗ Hòa liền, hy vọng trốn Trại, kịp chuyến vượt biên đường Kampuchia.
See Translation

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *